September 27, 2020

Ung thư thận có nguy hiểm như lời đồn?

Ung thư thận là một trong 10 loại ung thư phổ biến nhất ở cả nam giới và nữ giới. Chỉ riêng ung thư biểu mô thận đã chiếm 2% tổng số các loại ung thư trên toàn thế giới (4). Ung thư biểu mô thận có nguồn gốc từ phần vỏ thận và chiếm 80-85% tỉ lệ các loại u ác tính ở thận (4). Tỉ lệ mắc ung thư giữa hai giới cũng có sự khác biệt, ở khu vực Bắc Mĩ và Scandinavians, tỉ lệ mắc ở nam là 20% và ở nữ là 10%, do đó có thể thấy nam có nguy cơ mắc ung thư biểu mô thận cao hơn nữ (5).

Tỉ lệ tử vong do ung thư thận nói chung trong năm 2000 được ước tính có thể đạt ngưỡng 100,000 người (6)

1. Cấu trúc thận niệu

Thận bao gồm hai cơ quan hình hạt đậu, mỗi bên bằng kích thước của một nắm tay, nằm hai bên của cột sống và được bảo vệ phía trên bằng các xương sườn 11 và 12. 

Chức năng chính của thận là lọc máu và giúp cơ thể loại bỏ lượng nước, muối và các sản phẩm dư thừa qua nước tiểu. Nước tiểu đi ra qua một đường ống dài, mảnh gọi là niệu quản đến bàng quang. Nước tiểu được lưu lại ở bàng quang cho đến khi cơ thể thải ra ngoài bằng việc đi tiểu. Ngoài ra, thận còn tạo ra các hóc-môn renin giúp kiểm soát huyết áp và erythropoietin giúp tạo mới hồng cầu. 

Cơ thể người bình thường có hai thận nhưng chúng ta vẫn có thể sống nếu như chỉ có một thận, hoặc cần chạy thận nhân tạo (lọc máu) nếu không có quả thận nào (hoặc trường hợp thận không còn chức năng).

2. Ung thư thận niệu

Loại ung thư thận phổ biến nhất là ung thư tế bào biểu mô thận (Renal Cell Carcinoma – RCC). Giống như các loại ung thư khác, RCC thường rất nhỏ trong thời gian đầu và lớn dần qua thời gian. Ban đầu chỉ là một khối u đơn độc trong thận nhưng u sẽ nhanh chóng tăng dần về kích thước và phát triển rộng ra. Một thận có thể tồn tại nhiều khối u, và khối u có thể tồn tại ở cả hai bên thận.

Có nhiều phân nhóm ung thư tế bào biểu mô thận (RCC) dựa trên đặc điểm hình thái tế bào ung thư trên kính hiển vi. Phân nhóm ung thư tế bào biểu mô thận hỗ trợ điều trị một cách hiệu quả, đồng thời còn có ý nghĩa trong việc chẩn đoán tính di truyền của bệnh. Các loại ung thư tế bào biểu mô thận bao gồm (7):

  • Ung thư biểu mô thận tế bào sáng (Clear cell – Renal Cell Carcinoma): là loại ung thư thận phổ biến nhất, chiếm khoảng 70%, với nhiều phân độ khác nhau, từ phát triển chậm (độ 1) cho đến phát triển nhanh (độ 4). 
  • Ung thư biểu mô thận nhú (Papillary Renal Cell Carcinoma): là loại ung thư biểu mô thận phổ biến thứ hai, khoảng 10-15%. Ung thư biểu mô thận nhú thường được điều trị bằng phẫu thuật, các phương pháp khác như liệu pháp miễn dịch hiện vẫn đang được nghiên cứu.
  • Ung thư biểu mô thận Chromophobe (Chromophobe Renal Cell Carcinoma): Chromophobe là một loại ung thư hiếm gặp. Ung thư biểu mô thận Chromophobe thường không lan sang các cấu trúc xung quanh, nhưng một khi đã lây lan thường sẽ rất dữ dội. Hiện nay đang có nhiều thử nghiệm lâm sàng để tìm ra phương pháp điều trị tốt nhất.
  • Ung thư biểu mô thận ống góp (Collecting duct – Renal Cell Carcinoma): Thường xảy ra ở lứa tuổi 20-30 và có khởi đầu từ ống góp trong thận. Do đó, ung thư tế bào biểu mô thận ống góp có liên quan mật thiết đến ung thư tế bào chuyển tiếp. Đây là một loại ung thư khó điều trị, thậm chí cả khi kết hợp giữa hoá trị toàn thân và phẫu thuật. 
  • Và một số loại ung thư biểu mô thận hiếm gặp khác

Ngoại trừ nhóm ung thư tế bào biểu mô thận, còn có các loại ung thư thận khác như:

  • Ung thư tế bào chuyển tiếp (Transitional Cell Carcinomas – TCCs): Khoảng 5-10% ung thư tại thận là ung thư tế bào chuyển tiếp (1). TCCs thường không có nguồn gốc tại thận, nhưng là từ lớp lót bể thận (nơi mà nước tiểu đi qua trước khi đi vào niệu quản). Lớp lót này được cấu thành từ tế bào chuyển tiếp giống như tế bào lót niệu quản và bàng quang.
  • U Wilms: Thường xuất hiện ở trẻ nhỏ và rất hiếm ở người lớn. Trong bài này chúng ta sẽ chỉ bàn đến các loại u thường gặp ở người lớn.
  • Ung thư tế bào trung mô thận (hay còn gọi là Sarcoma thận): Là một loại ung thư thận hiếm gặp xuất phát từ mô liên kết hoặc mạch máu của thận. Ngoài ra còn có các loại u lành tính khác tại thận như:
  • U tuyến thận (Renal Adenoma) là loại u lành tính phổ biến nhất
  • U cơ mỡ mạch máu thận (Angiomyolipoma)
ung thư thận

Hình 1: Xu hướng các loại ung thư thận niệu (ở nam) theo lứa tuổi từ năm 1979 đến 2012 (trên 100 000 người) tại Đài Loan (8)

Hình 2: Xu hướng các loại ung thư thận niệu (ở nữ) theo lứa tuổi từ năm 1979 đến 2012 (trên 100 000 người) tại Đài Loan (8)

3. Yếu tố nguy cơ

Đến nay, nguyên nhân chính xác gây ra ung thư thận vẫn còn là một ẩn số, nhưng các yếu tố nguy cơ gây ung thư thận đã được các nhà khoa học chứng minh như:

Yếu tố về lối sống và nghề nghiệp

  • Hút thuốc
  • Thừa cân, béo phì
  • Các loại chất hoá học tiếp xúc thường xuyên trong công việc như: cadmium (một loại kim loại), dược phẩm, và đặc biệt là trichloroethylene (dung môi hữu cơ)

Yếu tố di truyền

  • Bệnh Von Hippel-Lindau
  • RCC nhú di truyền
  • RCC leiomyoma 
  • Hội chứng Birt-Hogg-Dube

Ngoài ra còn có các yếu tố nguy cơ khác như:

  • Tiền căn gia đình: Những người có người thân trực hệ bị ung thư thận (đặc biệt là anh chị em) có nguy cơ cao hơn bị mắc ung thư thận. Ung thư thận có thể xảy ra tự phát hoặc mang tính chất di truyền, hầu hết các ung thư thận là tự phát, và nguyên nhân chính xác cho yếu tố di truyền vẫn chưa được hiểu rõ.
  • Tăng huyết áp
  • Sử dụng một số loại thuốc giảm đau (phenacetin), tuy nhiên phenacetin đã được ngưng sử dụng từ rất lâu
  • Bệnh thận nền cần phải chạy thận
  • Giới nam thường có nguy cơ gấp 2 lần so với giới nữ
  • Sắc tộc: Tại Mỹ, người ta nhận thấy người Mỹ gốc Phi và gốc Ấn mắc ung thư thận cao hơn so với người Mỹ da trắng, lý do cho tỉ lệ này vẫn còn trong vòng ẩn số

4. Các dấu hiệu chẩn đoán

Ung thư thận giai đoạn sớm thường không gây bất kì triệu chứng hay dấu hiệu nào, tuy nhiên khi ung thư dần phát triển qua thời gian, bệnh nhân có thể nhận thấy một số triệu chứng như:

  • Tiểu máu
  • Đau lưng dưới tại một bên không do chấn thương
  • Xuất hiện một khối tại vùng lưng dưới
  • Mệt mỏi
  • Sụt cân
  • Sốt không do nhiễm trùng hoặc nhiễm siêu vi, sốt kéo dài

Các triệu chứng kể trên có thể bị chồng lấp với các nguyên nhân lành tính khác, do đó bạn nên đi khám và làm những xét nghiệm nếu nghi ngờ ung thư thận càng sớm càng tốt.

5. Các xét nghiệm cơ bản chẩn đoán ung thư thận

Các xét nghiệm máu và nước tiểu không thể khẳng định ung thư thận, nhưng đôi khi lại có thể mang lại những thông tin cho chẩn đoán sơ bộ về tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân. 

  • Tổng phân tích nước tiểu: Đây là xét nghiệm đầu tiên khi bạn đến kiểm tra sức khỏe tổng quát cũng như riêng về thận. Tổng phân tích nước tiểu mang lại các thông tin nếu có về sự xuất hiện của hồng cầu hay các chất khác và  đôi khi là định danh tế bào ung thư trong mẫu nước tiểu. 
  • Xét nghiệm máu
  • Công thức máu: Xét nghiệm này nhằm xác định số lượng tế bào khác nhau trong máu như hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Những bệnh nhân bị ung thư thận thường có tình trạng thiếu máu do đó số lượng hồng cầu sẽ giảm.
  • Xét nghiệm hoá sinh máu: sẽ biểu hiện chức năng của thận cũng như các cơ quan khác.
  • Chẩn đoán hình ảnh: Bao gồm chụp CT- scan  siêu âm, hình ảnh cộng hưởng từ – MRI , chụp bức xạ positron (PET- positron emission tomography), chụp hình mạch máu (angiography). Chẩn đoán hình ảnh nhìn chung để tạo dựng hình ảnh học về các cơ quan trong cơ thể nhằm:
    • Tìm ra vị trí ung thư
    • Xác định di căn
    • Kiểm tra điều trị
    • Kiểm tra tình trạng tái phát

Đôi khi, xét nghiệm máu, nước tiểu và chẩn đoán hình ảnh không thể chẩn đoán được liệu có hay không có ung thư, do đó chúng ta cần xác định qua sinh thiết. Có hai loại sinh thiết: Chọc hút qua kim nhỏ (fine needle aspiration- FNA) và sinh thiết lõi (core needle biopsy- CNB). FNA là sử dụng kim mảnh xuyên qua da đế sinh thiết dịch hay mẩu mô nhỏ. CNB là sử dụng một ống kim có lõi trụ bên trong, mô sinh thiết được sẽ có hình trụ.  

6. Điều trị

Điểm mấu chốt quyết định hướng điều trị ung thư thận là loại ung thư, giai đoạn ung thư, ngoài ra cần cân nhắc các yếu tố khác như tình trạng sức khoẻ chung của bệnh nhân, tác dụng phụ của điều trị, khả năng lành bệnh và tái phát

Trong phần này chúng ta sẽ bàn về điều trị của loại ung thư phổ biến nhất là ung thư tế bào biểu mô thận (RCC), bao gồm năm loại:

  • Phẫu thuật
  • Xạ trị
  • Hoá trị
  • Phương pháp miễn dịch
  • Điều trị trúng đích

Phẫu thuật

Phẫu thuật là phương pháp cơ học để loại bỏ khối u ra khỏi cơ thể, bao gồm các phân nhóm:

  • Phẫu thuật cắt bỏ khối u và một phần mô thận bao quanh, bảo tồn một phần chức năng thận. Phẫu thuật này có vai trò quan trọng khi mà một bên thận còn lại bị tổn thương hoặc đã bị cắt bỏ trước đó
  • Phẫu thuật cắt bỏ toàn thận: để loại bỏ toàn bộ một bên thận, bao gồm cả khối u 
  • Phẫu thuật cắt bỏ thận, tuyến thượng thận, mô và nạo hạch xung quanh

Cơ thể người có thể sống được nếu như chỉ còn một thận, nhưng nếu cả hai thận bị cắt bỏ hoặc không hoạt động, bệnh nhân cần phải chạy thận để đảm bảo chức năng lọc máu cho cơ thể, ngoài ra còn có thể ghép thận, tuy nhiên tìm được thận ghép phù hợp và vấn đề về kinh phí là một gánh nặng cho cả người bệnh và gia đình. 

Xạ trị

Xạ trị là phương pháp sử dụng tia X năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư hoặc hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư. Trong quá trình xạ trị sẽ sử dụng thuốc để giảm triệu chứng đồng thời tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Hóa trị

Hóa trị là phương pháp sử dụng thuốc để ngừng sự phát triển của tế bào ung thư, có thể là giết tế bào hoặc kìm sự phân chia của tế bào. Khi thuốc được đưa vào cơ thể qua đường uống hoặc tiêm mạch hoặc tiêm bắp, thuốc sẽ đi vào dòng máu và đến vị trí của tế bào ung thư, do đó hóa trị mang tính chất hệ thống (toàn cơ thể – systemic chemotherapy)

Liệu pháp miễn dịch (liệu pháp sinh học- biotherapy)

Liệu pháp miễn dịch là phương pháp điều trị sử dụng thuốc nhằm kích thích hệ thống miễn dịch của bệnh nhân, nhận biết tế bào ung thư và chiến đấu với tế bào ung thư. Các chất miễn dịch sẽ hình thành tự nhiên từ cơ thể người hoặc sản xuất nhân tạo từ các phòng thí nghiệm. Một số loại thuốc đang được sử dụng hiện nay bao gồm thuốc ức chế PD-1 (Pembrolizumab – tên thương mại Keytruda, Nivolumab – tên thương mại Opdivo), thuốc ức chế PD-L1 (Avelumab), thuốc ức chế CTLA-4 (Ipilimumab). Hiện phương pháp này vẫn đang được nghiên cứu thêm. 

Liệu pháp trúng đích 

Liệu pháp nhắm trúng đích sử dụng thuốc hoặc các chất nhân tạo được xác định và tấn công tế bào ung thư mà không làm tổn hại đến tế bào bình thường trong cơ thể. Hiện nay để điều trị ung thư biểu mô thận, các chuyên gia sử dụng tác nhân kháng tạo mạch máu (antiangiogenic agents), tác nhân kháng tạo mạch máu sẽ khiến cho tế bào ung thư không thể hình thành mạch máu, do đó không thể lấy dinh dưỡng từ máu và ngừng phát triển hoặc chết. Một số loại thuốc được sử dụng hiện nay như Sunitinib (Sutent) nhằm kháng tạo mạch và ức chế protein tăng trưởng trong tế bào ung thư, một số loại tương tự như Sorafenib (Nexavar), Pazopanib hoặc một số loại chỉ có tác dụng kháng tân tạo mạch như Cabozantinib (Cabometyx), Bevacizumab (Avastin)…

7. Tổng kết

Hiện nay với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, đang có thêm nhiều phương pháp và kĩ thuật mới nhằm chẩn đoán sớm ung thư nói chung và ung thư thận niệu nói riêng. Tuy nhiên, việc điều trị ung thư lại phần lớn dựa trên tình trạng cơ thể người bệnh, bệnh lý nền và giai đoạn ung thư. Ba yếu tố kể trên có liên quan mật thiết đến lối sống của người bệnh, từ đó nâng tầm quan trọng của dinh dưỡng, thể thao, khám sức khỏe định kỳ cũng như tuân thủ điều trị các bệnh lý nền. Ung thư thận không chỉ khó trong việc chẩn đoán, điều trị mà còn có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống sau này của bệnh nhân.

Chịu trách nhiệm nội dung: BS. Trần Thuỵ Hương Quỳnh, Đại học y khoa Kansai, Cộng tác viên Ruy Băng Tím

Góp ý nội dung:

TS. Lê Anh Phương, Đại học Quốc gia Singapore, Singapore

Nguyễn Hồng Vũ, TS, Viện nghiên cứu City of Hope, California, USA

Nguyễn Thị Kim Thương, BS Y học cổ truyền, Ban Y học Ruy Băng Tím

Lần cuối chỉnh sửa nội dung: 27/05/2020

Tài liệu tham khảo 

  1. American Cancer Society, 2014. Kidney Cancer (Adult) – Renal Cell Carcinoma Overview. https://www.cancerquest.org/sites/default/files/assets/pdf/Kidney/kidney-cancer-overview-guide-acs.pdf
  2. National Cancer Institute, 2020. Renal Cell Cancer Treatment (PDQ®)–Patient Version. https://www.cancer.gov/types/kidney/patient/kidney-treatment-pdq
  3. Motzer, R. J., Bander, N. H., & Nanus, D. M. (1996). Renal-cell carcinoma. New England Journal of Medicine, 335(12), 865-875.
  4. Kosary, C. L., & McLaughlin, J. K. (1993). SEER Cancer Statistics Review 1973–1990. pp. XI-1. National Cancer Institute, NIH Publication, 93-2789. 
  5. Parkin, D., Pisani, P., & Ferlay, J. (1993). Estimates of the worldwide incidence of eighteen major cancers in 1985. International journal of cancer, 54(4), 594-606.
  6. Pisani, P., Parkin, D. M., & Ferlay, J. (1993). Estimates of the worldwide mortality from eighteen major cancers in 1985. Implications for prevention and projections of future burden. International journal of cancer, 55(6), 891-903.
  7. American Society of Clinical Oncology, 2019. Kidney Cancer. https://www.cancer.net/cancer-types/kidney-cancer/introduction

Hung, C. F., Yang, C. K., & Ou, Y. C. (2016). Urologic cancer in Taiwan. Japanese journal of clinical oncology, 46(7), 605-609.

';
Quỳnh Trần

About Quỳnh Trần

  •  

Leave a Comment

error: Content is protected !!