UNG THƯ VÚ

  1. Tổng quan:

Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ và đứng thứ hai trong tất cả các loại ung thư ở cả hai giới trên toàn thế giới.

Theo Globocan (Cơ quan ghi nhận ung thư toàn cầu) có 1,67 triệu trường hợp mới mắc ung thư vú được chẩn đoán năm 2012 chiếm 25% tổng số các loai ung thư, trong đó có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất ở các nước công nghiệp hóa Bắc Mỹ, châu Âu. Tại Việt Nam, theo Globocan 2012 thì tỉ lệ mắc bệnh là 23/100000 phụ nữ.

Ung thư vú chủ yếu xảy ra ở nữ giới, rất hiếm gặp ở nam giới, với tỉ lệ 1% so với nữ giới.

Xuất độ ung thư vú có tăng nhưng tỉ lệ tử vong đang giảm dần do sự tiến bộ trong các phương pháp chẩn đoán và điều trị hiệu quả theo kiểu kết hợp đa mô thức

  1. Yếu tố nguy cơ:

Có rất nhiều yếu tố nguy cơ trong ung thư vú, tuy nhiên có đến 50% phụ nữ mắc ung thư vú mà không có các yếu tố nguy cơ nào. Do đó, tuổi và nữ giới là hai yếu tố nguy cơ quan trọng nhất. Ngoài ra còn có các yếu tố nguy cơ về gia đình, di truyền, tiền căn bản thân, lối sống, môi trường…

  • Yếu tố gia đình:

Tiền căn gia đình mắc ung thư vú thế hệ thứ nhất được xem là một yếu tố nguy cơ. Nguy cơ mắc ung thư vú tăng 1.5 lần nếu có mẹ, chị/em gái mắc ung thư vú và nguy cơ sẽ càng tăng nếu người mắc bệnh khởi phát càng trẻ, số lượng người mắc càng đông.

  • Yếu tố di truyền:

Đột biến gen nhạy cảm ung thư vú BRCA1 và BRCA2 tăng nguy cơ ung thư vú rất rõ, gặp ở 5 – 10% trường hợp mắc ung thư vú. Trường hợp người phụ nữ nghi ngờ hay đã biết có đột biến gen này sẽ được tư vấn di truyền và các biện pháp tầm soát, phòng ngừa ung thư vú.

Mời xem thêm: Bạn sẽ làm gì khi biết mình mang đột biến có khả năng cao sẽ bị ung thư vú và buồng trứng? – BS Trần Hoàng Hiệp

  • Yếu tố bản thân:
  • Yếu tố nội tiết tố nữ: tăng tiếp xúc với estrogen nội sinh (có kinh sớm, mãn kinh muộn, không sinh con hay sinh con đầu lòng trễ sau 30 tuổi, phụ nữ mãn kinh béo phì hay sử dụng nội tiết tố thay thế sau mãn kinh) tăng nguy cơ ung thư vú
  • Có bệnh lành tính tuyến vú: nếu có tăng sản không điển hình tiểu thùy hay ống tuyến vú (ADH, ALH) làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú lên 4 – 5 lần
  • Tăng đậm độ mô vú trên phim X-quang tuyến vú: là yếu tố nguy cơ quan trọng vì làm khó phát hiện ung thư vú
  • Yếu tố lối sống, chế độ ăn uống:
  • Uống rượu và hút thuốc lá đã được chứng minh làm tăng nguy cơ ung thư vú
  • Béo phì ở phụ nữ sau mãn kinh
  • Yếu tố môi trường:
  • Tiền căn tiếp xúc với phóng xạ ion hóa trước 30 tuổi. Có thể gặp các trường hợp: xạ trị thành ngực để điều trị bệnh (vd: lymphoma Hodgkin), người có bệnh lý phải chụp Xquang nhiều lần…

Xem thêm: Một số nguy cơ thường gặp của ung thư vú – BS Bùi Anh Thư

  1. Triệu chứng:

Tình huống thường gặp nhất là người bệnh tự sờ thấy một khối không đau ở vú và đi khám.

Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác ít gặp hơn:

  • Chảy dịch núm vú
  • Đau vú
  • Da vú dày lên, sần sùi hay viêm đỏ, núm vú bị tuột vào trong, sờ thấy hạch nách…là các triệu chứng ở giai đoạn trễ
  • Gãy xương, khó thở, báng bụng…đối với các trường hợp ung thư vú di căn xa.
  • Đôi khi người bệnh được phát hiện tình cờ khi khám tổng quát.
  1. Chẩn đoán:

Sau khi hỏi bệnh và thăm khám, bác sĩ sẽ cho người bệnh thực hiện một số xét nghiệm để chẩn đoán:

  • Xquang tuyến vú một bên hoặc hai bên
  • Siêu âm tuyến vú và vùng nách
  • Một số trường hợp có thể cần phải chụp MRI tuyến vú,
  • Siêu âm vùng cổ, bụng, xquang ngực hay có thể cần thực hiện xạ hình xương, CT scan ngực bụng để khảo sát di căn xa.
  • FNA (chọc hút tế bào bằng kim nhỏ) bướu vú hay Core-biopsy (sinh thiết lõi kim) bướu vú hay sinh thiết mở bướu vú. Tất cả 3 phương pháp trên đều nhằm xác định tế bào học hay mô học bướu vú, tình trạng thụ thể nội tiết (đối với core – biopsy hay sinh thiết mở), giúp định hướng cho việc điều trị được hiệu quả. Ba phương pháp vừa nêu có độ xâm lấn tăng dần, cũng như độ nhạy và chuyên cũng tăng dần.
  • Và một số xét nghiệm hỗ trợ khác tùy trường hợp

  

Mô tuyến vú gồm có các tiểu thùy và ống tuyến. Có hai dạng là tại chỗ hoặc xâm lấn. Hầu hết ung thư vú là ung thư ống tuyến vú xâm lấn (70 – 80%). Ngoài ra còn có một số trường hợp ung thư vú xuất phát từ các thành phần khác của vú như sarcoma hay lymphoma vú nhưng rất hiếm gặp.

Mời xem thêm: Nang tuyến vú có gây ung thư không? – ThS.BS. Nguyễn Trương Đức Hoàng

  1. Giai đoạn:

Theo AJCC phiên bản 7

Bướu nguyên phát T

TX                   Không thể xác định bướu nguyên phát

T0                    Không thấy bướu nguyên phát

Tis                   Carcinom tại chỗ

Tis (DCIS)       Carcinom trong ống tại chỗ

Tis (LCIS)       Carcinom tiểu thùy tại chỗ

Tis (Paget’s)    Bệnh Paget của núm vú không liên quan đến carcinom xâm lấn và/hoặc carcinom tại chỗ (DCIS và/hoặc LCIS) trong nhu mô vú. Carcinom  trong nhu mô vú liên quan với bệnh Paget thì được phân loại dựa trên kích thước và tính chất của bệnh trong mô vú mặc dù có sự hiện diện của bệnh Paget.

T1                    Bướu ≤2.0 cm (kích thước lớn nhất)

T1mi    Bướu ≤1 mm (kích thước lớn nhất)

T1a  Bướu >1 mm nhưng ≤5 mm (kích thước lớn nhất)

T1b      Bướu >5 mm nhưng ≤10 mm (kích thước lớn nhất)

T1c      Bướu >10 mm nhưng ≤20 mm (kích thước lớn nhất)

 

T2                    Bướu >20 mm nhưng ≤50 mm (kích thước lớn nhất)

T3                    Bướu >50 mm (kích thước lớn nhất)

T4                    Bướu có bất kì kích thước nào mà có sự ăn lan trực tiếp vào thành ngực và hoặc ra da (lở loét hay các nốt ở da)

Note: Chỉ xâm lấn đến lớp hạ bì không được xem là T4

T4a      Xâm lấn thành ngực (thành ngực không bao gồm cơ ngực).

T4b      Phù nề da cam và/hoặc lở loét và/hoặc có sang thương vệ tinh cùng bên mà không có tiêu chuẩn của ung thư vú dạng viêm.

T4c      Bao gồm T4a và T4b

T4d      Ung thư vú dạng viêm

 

Hạch vùng lâm sàng cN

NX                   Không thể xác định các hạch vùng (chẳng hạn, đã được lấy đi rồi)

N0                   Không di căn hạch vùng

N1                   Di căn vào (các) hạch nách nhóm I, II cùng bên, di động

N2                   Di căn vào các hạch nách nhóm I, II dính nhau hay không di động, hay chỉ di căn vào các hạch vú trong cùng bên trên lâm sàng mà không có di căn vào hạch nách.

N2a      Di căn vào các hạch nách cùng bên nhóm I, II dính nhau hay dính với các cấu trúc khác.

N2b     Chỉ di căn vào các hạch vú trong cùng bên trên lâm sàng mà không có di căn vào các hạch nách trên lâm sàng.

N3                   Di căn vào các hạch dưới xương đòn cùng bên (hạch nách nhóm III) có hay không có di căn hahcj nách, hoặc di căn vào các hạch vú trong cùng bên trên lâm sàng cùng sự hiện diện lâm sàng của di căn vào các hạch nách, hoặc là di căn vào các hạch trên xương đòn cùng với sự di căn hay không của các hạch nách hay hạch vú trong.

N3a      Di căn vào các hạch dưới xương đòn cùng bên.

N3b     Di căn vào các hạch vú trong và hạch nách cùng bên.

N3c      Di căn vào các hạch trên xương đòn cùng bên.

 

Di căn xa M

        M0       Không có di căn xa

M1       Di căn xa được phát hiện trên lâm sàng hay hình ảnh học và/hoặc mô học chứng minh ổ di căn lớn hơn 0.2 mm

Giai đoạn

Giai ñoaïn O Tis N0 M0
Giai ñoaïn I T1 N0 M0
Giai ñoaïn IIA T0 N1 M0
T1 N1 M0
T2 N1 M0
Giai ñoaïn IIB T2 N1 M0
T3 N0 M0
Giai ñoaïn IIIA T0 N2 M0
T1 N2 M0
T2 N2 M0
T3 N1, N2 M0
Giai ñoaïn IIIB T4 Baát keå N M0
Giai ñoaïn IIIC Baát keå T N3 M0
Giai ñoaïn IV Baát keå T Baát keå N M1

 

  1. Điều trị:

Có nhiều phương pháp điều trị và hiện nay điều trị đa mô thức kết hợp nhiều phương pháp điều trị với nhau là nền tảng cho việc điều trị ung thư vú.

  • Phẫu thuật: là liệu pháp ban đầu dùng cho hầu hết các trường hợp. Có các loại phẫu thuật thực hiện theo giai đoạn bệnh và mong muốn của bệnh nhân như phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ vú hay phẫu thuật bảo tồn tức là cắt rộng quanh bướu, người bệnh còn giữ được vú. Ngoài ra còn có phẫu thuật tạo hình tuyến vú sau khi cắt bỏ toàn bộ mô vú hay kĩ thuật sinh thiết hạch lính gác giảm tỉ lệ nạo hạch nách cũng giúp giảm biến chứng do nạo hạch nách trên bệnh nhân ung thư vú.

Mời xem thêm: Hóa trị trước khi phẫu thuật ung thư vú có làm tăng di căn xa? – BS Trần Hoàng Hiệp

  • Hóa trị:

Là liệu pháp điều trị có thể sử dụng trước hay sau phẫu thuật nhằm mục đích hỗ trợ điều trị. Hóa trị giúp làm thu nhỏ bướu hay có trường hợp sạch bướu trên đại thể, tạo thuận lợi cho phẫu thuật sau đó.

Hóa trị hỗ trợ sau phẫu thuật thường cho các trường hợp bệnh nhân trẻ tuổi, bướu lớn, độ biệt hóa kém, di căn hạch, bản chất sinh học loại tiên lượng kém.

Mời xem thêm: Thiết bị làm lạnh da đầu nhằm giảm rụng tóc trong quá trình hóa trị – BS Hoàng Đình Kính

  • Xạ trị:

Là liệu pháp điều trị nhằm mục đích kiểm soát tại chỗ tại vùng, hỗ trợ sau điều trị phẫu thuật và hóa trị, giảm tỉ lệ tái phát. Xạ trị thường chỉ định cho các trường hợp phẫu thuật bảo tồn vú, có hạch di căn, xâm lấn cơ ngực, phẫu thuật có diện cắt dương tính.

  • Liệu pháp nhắm trúng đích:

Sử dụng thuốc tác dụng lên HER2 (Human Epidermal growth factor Receptor 2)cho các trường hợp ung thư vú có biểu hiện thụ thể này.

  • Liệu pháp nội tiết:

Sử dụng thuốc nội tiết hàng ngày trong 5 – 10 năm cho các trường hợp ung thư vú có biểu hiện thụ thể estrogen và/hoặc progesterone, ý nghĩa của thuốc về giảm tái phát, tăng sống còn đã được chứng minh.

Mời xem thêm: Các bệnh ung thư hiện nay đang được điều trị bằng tế bào gốc – TS Nguyễn Hồng Vũ

Điều trị ung thư vú

  • Giai đoạn 0:
  • Carcinom tiểu thùy tại chỗ: Khuyến cáo theo dõi bằng chụp nhũ ảnh hằng năm và khám vú mỗi 6 tháng
  • Carcinom ống tuyến tại chỗ:

Điều trị kinh điển là phẫu thuật bảo tồn vú và xạ trị

Phẫu thuật đoạn nhũ cho các trường hợp bướu đa ổ hay lan rộng

Hạch nách di căn chỉ gặp 1 – 2% trường hợp nên thường không nạo hạch nách giai đoạn này

  • Giai đoạn I – II:
  • Điều trị kinh điển là phẫu thuật đoạn nhũ. Có thể là đoạn nhũ toàn bộ, hoặc đoạn nhũ tiết kiệm da tạo hình tuyến vú tức thì.
  • Đối với vùng nách nếu hạch dương tính trên lâm sàng sẽ nạo hạch nách. Nếu không sẽ thực hiện sinh thiết hạch lính gác và nạo hạch nách hay không sẽ phụ thuộc vào kết quả sau sinh thiết hạch lính gác
  • Có một số trường hợp có thể thực hiện phẫu thuật bảo tồn và xạ trị sau đó thay cho đoạn nhũ, giúp mang lại thẩm mỹ tốt hơn.
  • Xạ trị sau phẫu thuật đoạn nhũ khi có di căn hạch, bướu xâm lấn cơ ngực lớn hay diện cắt còn tế bào ung thư
  • Điều trị toàn thân: bao gồm hóa trị, liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp nội tiết. Với các trường hợp có HER2 dương tính, có chỉ định hóa trị khi bướu lớn hơn 1cm và liệu pháp nhắm trúng đích. Trường hợp bệnh nhân có HER2 âm tính, thụ thể nội tiết dương tính cao thường ít đáp ứng với hóa trị, nên chỉ định hóa trị sẽ cân nhắc trên từng trường hợp bệnh nhân cụ thể. Còn bướu có thụ thể nội tiết lẫn HER2 âm tính (tam âm) là trường hợp có tiên lượng kém, cần chỉ định hóa trị hỗ trợ.
  • Giai đoạn III:
  • Hóa trị dẫn đầu sau đó phẫu thuật và xạ trị là điều trị tiêu chuẩn
  • Giai đoạn IV:

Điều trị triệu chứng, nâng đỡ là chính yếu

  • Xạ trị hoặc bisphosphonate phối hợp với liệu pháp nội tiết hoặc hóa trị để làm giảm đau do di căn xương
  • Điều trị toàn thân phụ thuộc vào tình trạng thụ thể nội tiết, diễn tiến của bệnh và tác dụng phụ của hóa trị

 

  1. Tiên lượng:

Sống còn 5 năm với ung thư vú

Giai đoạn Tỉ lệ
0 – I ≈ 100%
II 93%
III 72%
IV 22%

(Theo American Cancer Society)

  1. Tầm soát và phòng ngừa:
  • Tầm soát:
  • Với phụ nữ bình thường, không có các yếu tố nguy cơ kể trên, nên thực hiện chụp nhũ ảnh tầm soát ung thư vú mỗi năm sau 40 tuổi
  • Với phụ nữ có nguy cơ ung thư vú cao hơn, nên thực hiện tầm soát ung thư vú sớm hơn, thường từ 30 tuổi hoặc tùy vào từng trường hợp cụ thể
  • Mỗi người phụ nữ nên có ý thức về sự thay đổi hình dạng và tính chất vú của mình, để có thể phát hiện sớm các bất thường và tới cơ sở y tế kịp thời.

Mời xem thêm: Tầm soát ung thư vú – BS Trần Hoàng Hiệp

  • Phòng ngừa:
  • Nâng cao lối sống: tập thể dục, ăn uống lành mạnh, duy trì cân nặng hợp lý
  • Với phụ nữ mãn kinh, không nên tùy ý sử dụng nội tiết tố thay thế, chỉ sử dụng khi có chỉ định của Bác sĩ.

 

Chịu trách nhiệm nội dung: BS Nguyễn Huỳnh Hà Thu

 

Tài liệu tham khảo:

  • American Cancer Soceity
  • Breast Cancer – AJCC Cancer Staging Atlats
  • Ung thư vú – Bài giảng ung bướu Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
  • Globocan 2012