ung thư đại trực tràng - yếu tố nguy cơ và phòng tránh
March 21, 2016

Ung thư đại trực tràng- Yếu tố nguy cơ và phòng tránh

Ung thư đại trực tràng (UTDTT) là loại ung thư đứng thứ 4 ở nam giới và đứng thứ 6 ở nữ giới về số ca mắc ở Việt Nam.

Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 8800 ca mắc UTDTT mới, và khoảng 6000 ca tử vong vì loại ung thư này.

Trước đây, các ca mắc UTDTT chủ yếu ở người sau 50 tuổi, nhưng từ khoảng gần 20 năm trở lại đây, tỷ lệ mắc ung thư này đang có xu hướng trẻ hoá.

Các yếu tố nguy cơ (làm tăng nguy cơ) ung thư đại trực tràng gồm có:

Tuổi tác

Người có độ tuổi trên 50 có nguy cơ UTDTT cao nhất. Tuy nhiên, xu hướng trẻ hoá đã xuất hiện.

Tiền sử bệnh cá nhân

Bạn sẽ có nguy cơ bị UTDTT cao hơn nếu đã từng mắc:
Ung thư đại trực tràng
Polyp đại trực tràng (những khối u lành tính trong đại trực tràng, đặc biệt là những khối có kích thước lớn hơn 1cm hoặc có dạng tế bào dị thường khi quan sát dưới kính hiển vi).
Ung thư buồng trứng
Viêm đường ruột (bao gồm cả viêm loét đại tràng hoặc bệnh Crohn)
Nếu bạn đã từng có polyp hoặc bị bệnh viêm đường ruột, bạn nên bắt đầu tầm soát sớm hơn và thường xuyên hơn.
Lưu ý rằng, bệnh viêm đường ruột khác với hội chứng kích thích đường ruột, và hội chứng này không làm tăng nguy cơ UTDTT.

Tiền sử gia đình & di truyền

Nguy cơ UTDTT tăng gấp đôi nếu trong gia đình cách tối đa 1 thế hệ (cha mẹ, anh chị em, con cái) có người từng bị ung thư này. Nguy cơ thậm chí còn cơ cao hơn nữa ở những gia đình có bệnh nhân UTDTT dưới 45 tuổi, và việc tầm soát sớm và thường xuyên là rất quan trọng trong gia đình này.

Người thân của người có polyp đại trực tràng cũng tăng nguy cơ bị ung thư liên quan.

Người thân của bệnh nhân mắc một số bệnh/hội chứng di truyền hiếm gặp cũng gia tăng đáng kể nguy cơ mắc UTDTT, cũng như các loại ung thư khác. Các bệnh/hội chứng này bao gồm:
Familial adenomatous polyposis (FAP)
Nhược độc đa polyp trong gia đình (AFAP)
Hội chứng Gardner
Hội chứng Lynch
Hội chứng Juvenile polyposis (JPS)
Hội chứng Muir-Torre
Đa polyp liên quan tới MYH (MAP)
Hội chứng Peutz-Jeghers hay lồng ruột non (PJS)
Hội chứng Turcot.
Nếu trong gia đình gần có người bị ung thư đai trực tràng hoặc polyp đại trực tràng, hoặc các bệnh/hội chứng di truyền trên, bạn nên nói cho bác sĩ biết để xem có cần tầm soát ung thư này trước 50 không, và với tần suất thế nào. Nếu bạn là người bị ung thư hoặc polyp đại trực tràng, bạn cũng cần nói cho người trong gia đình biết để họ hiểu nguy cơ ung thư của mình.

Rượu bia
Uống thức uống có cồn được chứng minh là làm tăng nguy cơ UTDTT, cũng như polyp đại trực tràng.

Hút thuốc lá
Hút thuốc lá cũng được chứng minh là làm tăng nguy cơ ung thư và polyp đại trực tràng. Ở những người đã phẫu thuật cắt bỏ polyp, việc hút thuốc lá làm tăng nguy cơ chúng xuất hiện trở lại.

Thừa cân/Béo phì
Tình trạng cơ thể thừa cân hoặc béo phì được chứng minh là có liên quan đến nguy cơ UTDTT.
Để biết bản thân có thừa cân hay không, xin làm theo quy chuẩn sau:
Trước hết, tính chỉ cố BMI của bạn.
BMI = khối lượng cơ thể (theo kg) / [chiều cao (theo mét) * chiều cao (theo mét)], tức là lấy khối lượng cơ thể chia cho bình phương chiều cao.
Nếu BMI của bạn là từ 25 đến 30, bạn đang bị thừa cân.
Nếu BMI của bạn trên 30, bạn đang bị béo phì.
Thịt đỏ và thịt chế biến
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh thịt đỏ và thịt chế biến có thể gây UTDTT. Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) trực thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xác nhận điều này. Xem thêm ở bài viết Những điều cần biết về khả năng gây ung thư của Thịt đỏ & Thịt chế biến.

Chế biến thịt ở nhiệt độ cao
Các phương pháp chế biến thịt ở nhiệt độ cao như nướng, chiên, xào, làm sản sinh các chất gây ung thư, từ đó gia tăng nguy cơ UTDTT.

Các yếu tố bảo vệ (làm giảm nguy cơ) ung thư đại trực tràng gồm có:

Vận động thể chất
Nhiều nghiên cứu cho thấy vận động thể chất làm giảm nguy cơ UTDTT.

Aspirin
Uống aspirin mỗi ngày liên tục ít nhất 5 năm sẽ làm giảm nguy cơ và tỷ lệ tử vong do UTDTT.
Tuy nhiên, chúng tôi không khuyên bạn áp dụng điều này, nếu không có chỉ định của bác sĩ. Việc uống aspirn hằng ngày sẽ mang lại tác dụng phụ là có nguy cơ cao bị chảy máu trong ruột, dạ dày và não.

Sử dụng liệu pháp thay thế hormone kết hợp
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng liệu pháp thay thể hormone (hooc-môn) (thông thường là thuốc tránh thai) dạng kết hợp cả estrogen và progestin làm giảm nguy cơ UTDTT xâm lấn ở phụ nữ hậu mãn kinh.
Tác dụng phụ có thể của liệu pháp này bao gồm tăng nguy cơ ung thư vú, bệnh tim, nghẽn mạch máu do máu đông.

Cắt bỏ polyp
Đa số polyp đại tràng là dạng adenomas, tức dạng lớn hơn 1cm hoặc hình thái tế bào dị thường. Việc cắt bỏ các adenomas sẽ làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tàng. Tuy nhiên, chưa rõ là việc cắt bỏ các polyp nhỏ hơn có làm giảm nguy cơ này hay không.

Tác hại có thể của việc cắt bỏ polyp thông qua nội soi bao gồm làm trầy, rách niêm mạc đại tràng và chảy máu đại tràng.

CDR415500-750

Hình ảnh minh hoạ và ảnh nội soi thật về polyp trong đại tràng. Nguồn ảnh: National Cancer Institute (http://www.cancer.gov/images/cdr/live/CDR415500-750.jpg)
Ăn nhiều chất xơ
Việc ăn nhiều chất xơ tự nhiên từ rau củ quả, ngũ cốc nguyên cám (thực vật nói chung) cho thấy có thể làm giảm nguy cơ UTDTT. Cơ chế của chế độ ăn nhiều chất xơ giúp giảm nguy cơ ung thư vẫn chưa được hiểu tường tận, nhưng đã có nhiều cơ chế được chứng minh.

Một trong những cơ chế được biết là do đặc tính lý hoá cơ bản của chất xơ. Chất xơ không tiêu hoá được ở ruột non, do đó chúng đi thẳng vào ruột già (đại tràng) và hoạt động như một màng bảo vệ, ngăn chặn bớt thời gian tiếp xúc của ruột già với các chất gây ung thư, đồng thời hấp phụ một số chất này và mang ra ngoài cơ thể theo phân.

Một cơ chế khác được đề nghị là chất xơ khi vào ruột già cũng làm tăng tính trương nở và độ nhớt của sản phẩm tiêu hoá, từ đó làm giảm tốc độ quá trình lên meni protein – quá trình sinh chất gây ung thư ở ruột già.

Cuối cùng, cơ chế được nghiên cứu nhiều nhất là do tác dụng của lợi khuẩn đường ruột. Nhiều vi khuẩn tốt, trong đó có Butyrivibrio fibrisolvens có khả năng tiêu hoá chất xơ, phân giải chúng thành các acid béo mạch ngắn như là butyrate. Nhiều acid béo mạch ngắn có tác dụng chống ung thư một cách chọn lọc, tức chỉ tác dụng lên tế bào ung thư đại trực tràng mà hầu như không tổn hại tế bào thường. Hơn nữa, như đã nói ở trên, các bệnh viêm đường ruột mãn tính là yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư, trong khi các acid béo này còn có tính chất chống viêm, do đó cũng là 1 yếu tố làm giảm nguy cơ ung thư.

Do đó, bên cạnh việc ăn nhiều chất xơ, việc bổ sung lợi khuẩn (probiotic) và các chất nuôi lợi khuẩn này, trong đó có chính chất xơ, là cần thiết để bảo vệ đường ruột nói chung và giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng nói riêng.

Chất xơ từ thực phẩm chức năng không cho thấy khả năng bảo vệ này.

Các yếu tố chưa rõ tác động thế nào đến nguy cơ ung thư đại trực tràng:

Sử dụng thuốc chống viêm không steroid khác Aspirin
Chưa rõ là việc sử dụng các thuốc chống viêm không steroid khác Aspirin, hay còn gọi là NSAIDs, như sulindiac, celecoxib, naproxen, hay ibuprofen, có làm giảm nguy cơ UTDTT hay không.

Một số nghiên cứu cho thấy việc uống celecoxib làm giảm nguy cơ tái phát sau khi cắt bỏ polyp, nhưng chưa rõ tác dụng này có làm giảm nguy cơ UTDTT hay không.

Các tác dụng phụ không mong muốn có thể của NSAIDs bao gồm:
Vấn đề về thận
Chảy máu bao tử, ruột hoặc não
Vấn đề về tim như đau tim, suy tim sung huyết
Canxi
Chưa rõ là việc sử dụng thực phẩm chức năng chứa canxi có làm giảm nguy cơ UT DTT hay không.

Tóm lượt

Ở trên là những yếu tố có ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư đại trực tràng được biết đến, cũng như một số yếu tố chưa rõ ảnh hưởng vẫn đang còn nghiên cứu.

Để giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng, cần nhớ để tránh các yếu tố làm tăng nguy cơ, bổ sung các yếu tố làm giảm nguy cơ (nếu được). Cụ thể, những yếu tố mà bạn có thể thay đổi được đó là:

Bỏ hút thuốc lá
Giảm tối đa rượu bia
Theo dõi và duy trì cân nặng hợp lý
Tầm soát UTDTT nếu trong gia đình có người mang các bênh/hội chứng như đã kể trên. Khuyến cáo cần tầm soát UTDTT đối với người trên 50 tuổi
Vận động thể chất thường xuyên, ít nhất 30 phút mỗi ngày
Giảm thịt đỏ, thịt chế biến và các món chiên xào nướng
Tham vấn bác sĩ để cắt bỏ các adenomas nếu bạn có
Ăn nhiều chất xơ tự nhiên & bổ sung, duy trì lợi khuẩn.

Chịu trách nhiệm thông tin: Nguyễn Cao Luân
Lần cuối xem xét y học: 22/03/2016
Lần cuối chỉnh sửa: 22/03/2016

Tài liệu tham khảo:
Colorectal Cancer Prevention–Health Professional Version (PDQ®), National Cancer Institute, [cited on March 22th, 2016], Available at: <http://www.cancer.gov/types/colorectal/hp/colorectal-prevention-pdq#section/_1>

Colorectal cancer risk factors, American Cancer Society, [cited on March 22th, 2016], Available at: <http://www.cancer.org/cancer/colonandrectumcancer/detailedguide/colorectal-cancer-risk-factors>

Colorectal Cancer: Risk Factors and Prevention, American Society of Clinical Oncology, [cited on March 22th, 2016], Available at: <http://www.cancer.net/cancer-types/colorectal-cancer/risk-factors-and-prevention>

The Role of Major Nutrients in Cancer Prevention, American Society of Clinical Oncology, [cited on March 22th, 2016], Available at: <http://www.cancer.net/navigating-cancer-care/prevention-and-healthy-living/diet-and-nutrition/role-major-nutrients-cancer-prevention>

Globocan 2012: Population Fact Sheet, Vietnam, International Agency for Research on Cancer, [cited on March 22th, 2016], Available at: <http://globocan.iarc.fr/Pages/fact_sheets_population.aspx>

Huawei Zeng, Darina L Lazarova, and Michael Bordonaro, Mechanisms linking dietary fiber, gut microbiota and colon cancer prevention, World J Gastrointest Oncol. 2014; 6(2): pp. 41–51.

Leslie K. Ferrarelli, Why a High-Fiber Diet Prevents Cancer, Sci. Signal. 2015; 8(359), pp. ec8.
Paul et al, Influences of diet and the gut microbiome on epigenetic modulation in cancer and other diseases, Clinical Epigenetics. 2015; 7(112). DOI 10.1186/s13148-015-0144-7.

';
Luân Nguyễn

About Luân Nguyễn

Biên tập viên
Nghiên cứu sinh, phòng Sinh học Phân tử & Tế bào, Phân khoa Khoa học cao cấp về Vật chất, Khoa Khoa học, Đại học Hiroshima, Nhật Bản.

  •  
  • Facebook

Leave a Comment