Resveratrol-Side-Effects-e1373391314525-810x542
May 12, 2016

Resveratrol trong vỏ nho đỏ và tiềm năng phòng chống ung thư

Ung thư là nguyên nhân lớn nhất gây tử vong trên 6 triệu người mỗi năm ở cả nam giới và phụ nữ trên toàn thế giới. Ngăn ngừa ung thư bằng phương pháp hóa học (Chemo-prevention) băng cách ăn/hấp thu các chất có khả năng giảm nguy cơ ung thư [1], là một trong những cách trực tiếp nhất để giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong. Các tác nhân ngăn ngừa ung thư bao gồm các thuốc kháng viêm không thuộc nhóm steroid (nonsteroidal anti inflammatory drugs – NSAID) như indomethacin, aspirin, piroxicam, sulindac, tất cả đều ức chế cyclooxygenase (COX) [2]. Cyclooxygenase có 2 dạng chính: COX-1 và COX-2 và một dạng biến thể là COX-3. COX-1 được biểu hiện ở nhiều mô còn COX-2 là một enzyme cảm ứng biểu hiện trong các tế bào liên quan đến phản ứng viêm, như các đại thực bào, trong đó sản xuất một lượng lớn các prostaglandin E2 (PGE2) [3]. COX xúc tác quá trình chuyển hóa axit arachidonic thành chất tiền viêm như prostaglandins, có thể kích thích tăng trưởng tế bào ung thư và ngăn chặn khả năng giám sát của hệ miễn dịch [4]. Ngoài ra, COX có thể kích hoạt chất gây ung thư với các hình thức gây thiệt hại cho vật liệu di truyền [5].

Trong những nghiên cứu về các  tác nhân ngăn ngừa ung thư trong vài năm trở lại đây, hàng trăm chất tách chiết từ thực vật được đánh giá về khả năng ức chế COX. Chất resveratrol (3,5,49-trihydroxy-trans-stilbene) được xác định là một chất ức chế mạnh COX. Resveratrol (3,5,4′-trihydroxy-trans-stilbene) là một hợp chất tự nhiên được tìm thấy trong vỏ nho đỏ, hà thủ ô Nhật Bản (Polygonum cuspidatum), đậu phộng, quả việt quất và một số hoa quả khác. Resveratrol là một chất chống oxy hóa mạnh được sản xuất bởi một số loài thực vật để bảo vệ chúng chống lại áp lực môi trường. Ngoài ra, resveratrol còn là chất chống oxy hóa, trung hòa các gốc tự do – được cho là nguyên nhân của sự lão hóa.

 

 

 

Cấu trúc hóa học của Resveratrol

Cấu trúc hóa học của Resveratrol

CÁC HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA RESVERATROL LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG CHỐNG UNG THƯ

Resveratrol có khả năng ức chế sự phát triển của một loạt các dòng tế bào ung thư ở người, bao gồm cả ung thư vú, tuyến tiền liệt, dạ dày, đại tràng, tuyến tụy và ung thư tuyến giáp [6]. Trong các nghiên cứu trên động vật, ở hình thức uống, bôi hoặc tiêm, resveratrol ức chế sự phát triển của ung thư do các chất hóa học gây ra tại nhiều vị trí bao gồm cả đường tiêu hóa, gan, da, vú, tuyến tiền liệt, và phổi [7, 8]. Các tác dụng chống ung thư của chất resveratrol trong các mô hình động vật gặm nhấm liên quan đến việc giảm phát triển tế bào, sự cảm ứng apoptosis, ức chế sự hình thành mạch máu, tăng trưởng khối u và di căn [9].

Tác dụng trên enzyme chuyển hoá

Một số hợp chất không gây ung thư cho đến khi chúng được chuyển hóa trong cơ thể bằng enzyme chuyển hóa sinh học giai đoạn I, đặc biệt là enzyme cytochrome P450. Bằng cách ức chế sự biểu hiện và hoạt động của một số enzyme cytochrome P450, resveratrol có thể giúp hạn chế sự hoạt hóa của các chất gây ung thư, từ đó giúp ngăn ngừa ung thư. Ngược lại, tăng hoạt động của các enzyme giải độc giai đoạn II nói chung thúc đẩy sự bài tiết của các chất độc hại có khả năng gây ung thư. Resveratrol đã được tìm thấy để tăng sự biểu hiện và hoạt động của NAD(P)H: quinone oxidoreductase-1 (NQO1) trong nuôi cấy tế bào và có thể là một chất cảm ứng nhẹ của enzyme giai đoạn II khác [10].

Sự ức chế sự tăng sinh và cảm ứng apoptosis

Sau khi DNA bị hư hỏng, chu kỳ tế bào có thể bị dừng lại tạm thời để cho phép sửa chữa DNA hoặc kích hoạt các con đường dẫn đến quá trình chết của tế bào (apoptosis) trong trường hợp hư hỏng đó không thể sửa chữa. Nếu quá trình điều hòa chu kỳ tế bào gặp vấn đề, có thể dẫn đến việc di truyền các đột biến dẫn đến ung thư. Hơn nữa, không giống như các tế bào bình thường, các tế bào ung thư sinh sôi nảy nở nhanh chóng và không phản ứng với tín hiệu gây chết tế bào để khởi động quá trình chết của tế bào (apoptosis). Resveratrol có khả năng cảm ứng sự dừng lại của chu kỳ tế bào hoặc làm apoptosis trong một số dòng tế bào ung thư [10].

Bên cạnh đó, Resveratrol có thể giúp giảm khối u tuyến tiền liệt thông qua việc giảm mức độ hoạt động của phức hợp mTORC1 ở tuyến tiền liệt. Một nghiên cứu khác chứng minh rằng resveratrol điều hòa các con đường tín hiệu ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư tuyến tiền liệt [11]. Tuy nhiên, resveratrol cũng làm tăng sự hình thành mạch và ức chế apoptosis trong cơ thể [12].

Sự ức chế quá trình hình thành mạch và xâm lấn của khối u

Các tế bào ung thư xâm lấn các mô bình thường được hỗ trợ bởi các enzyme gọi là matrix metalloproteinase. Resveratrol ức chế hoạt động của ít nhất một loại matrix metalloproteinase. Để thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng, các khối u xâm lấn cũng phải phát triển các mạch máu mới bằng một quá trình gọi là sự hình thành mạch. Resveratrol đã được chứng minh cho thấy có thể ức chế sự hình thành mạch trong các mô hình ung thư trong phòng thí nghiệm và trong cơ thể [10].

Các nghiên cứu cho thấy, trans-resveratrol làm giảm sự methyl hóa của các gen ức chế khối u RASSF-1-alpha ở những phụ nữ có nguy cơ ung thư vú cao. Ngoài ra, sau khi điều trị với resveratrol, các tế bào ung thư vú có hiện tượng giảm xâm lấn và di căn [11].

Tác dụng chống viêm

Sự viêm thúc đẩy sự tăng sinh tế bào và sự hình thành mạch, đồng thời ức chế apoptosis. Resveratrol đã được chứng minh cho thấy có thể ức chế hoạt động của một số enzyme gây viêm trong ống nghiệm, bao gồm cyclooxygenases và lipoxygenases. Resveratrol cũng có thể ức chế các yếu tố phiên mã cảm ứng gây viêm chẳng hạn như NFκB hoặc AP-1 [10].

Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I và giai đoạn II để xem xét các tác động của resveratrol lên ung thư ruột kết xung quanh niêm mạc đại tràng. Một thử nghiệm giai đoạn I do Viện ung thư quốc gia tài trợ đang nghiên cứu các tác dụng phụ và phác đồ điều trị tốt nhất của resveratrol ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng đã được loại bỏ bằng phẫu thuật. Kết quả của các thử nghiệm này có thể cung cấp một nền tảng các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn trong tương lai để xác định đầy đủ và hiệu quả ngăn ngừa ung thư của resveratrol trên người [11].

KẾT LUẬN

  • Resveratrol có tiềm năng rất lớn không chỉ trong phòng mà còn trong việc điều trị nhiều loại bệnh ung thư. Các tế bào khối u sử dụng nhiều con đường để sống sót và lấn át các tế bào bình thường. Do vậy, các chất như resveratrol có thể ngăn chặn nhiều con đường bất thường đó, có tiềm năng mạnh mẽ để phòng ngừa và điều trị ung thư.
  • Bổ sung các loại thực phẩm có chứa resveratrol để có thể phòng ngừa được một số loại ung thư. Tuy nhiên, cần bổ sung resveratrol với liều lượng vừa phải (2.5-5g mỗi ngày) để tránh gặp phải một số vấn đề về tiêu hóa [13, 14].

Nguồn:

  • Resveratrol. Jane Higdon, Ph.D. Linus Pauling Institute. Oregon State University (2005).
  • Resveratrol. Memorial Sloan Kettering Cancer Center. 2015.

Chịu trách nhiệm thông tin:  Lê Ngọc Hồng Phượng

Cố vấn khoa học: TS. Nguyễn Hồng Vũ.

Ngày kiểm duyệt: 12/05/2016

Ngày chỉnh sửa: 12/05/2016

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. B. Sporn and D. L. Newton,Fed. Proc.38, 2528 (1979).
  2. Kudo, T. Narisawa, S. Abo,Gann71, 260 (1980);
  3. Guzik, T.J., Korbut, R., Adamek-Guzik, T., 2003. Nitric oxide and superoxide in inflammation and immune regulation. Journal of Physiology and Pharmacology. 54, 469-487.
  4. J. Plescia, A. H. Smith, K. Grinwich,Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A.72, 1848 (1975); J. S. Goodwin, Am. J. Med.77, 7 (1984).
  5. V. Zenseret al.,J. Pharmacol. Exp. Ther.227, 545 (1983); D. Wild and G. H. Degan, Carcinogenesis8,541 (1987).
  6. Aggarwal BB, Bhardwaj A, Aggarwal RS, Seeram NP, Shishodia S, Takada Y. Role of resveratrol in prevention and therapy of cancer: preclinical and clinical studies. Anticancer Res. 2004;24(5A):2783-2840.
  7. Bishayee A. Cancer prevention and treatment with resveratrol: from rodent studies to clinical trials. Cancer Prev Res (Phila). 2009;2(5):409-418.
  8. Bishayee A, Darvesh AS, Politis T, McGory R. Resveratrol and liver disease: from bench to bedside and community. Liver Int. 2010;30(8):1103-1114.
  9. Tome-Carneiro J, Larrosa M, Gonzalez-Sarrias A, Tomas-Barberan FA, Garcia-Conesa MT, Espin JC. Resveratrol and clinical trials: the crossroad from in vitro studies to human evidence. Curr Pharm Des. 2013;19(34):6064-6093.
  10. Jane Higdon, Ph.D. Resveratrol. Linus Pauling Institute. Oregon State University (2005).
  11. Memorial Sloan Kettering Cancer Center. 2015.
  12. Wang TT, Hudson TS, Wang TC, et al. Differential effects of resveratrol on androgen-responsive LNCaP human prostate cancer cells in vitro and in vivo. Oct 2008;29(10):2001-2010.
  13. Brown VA, Patel KR, Viskaduraki M, et al. Repeat dose study of the cancer chemopreventive agent resveratrol in healthy volunteers: safety, pharmacokinetics, and effect on the insulin-like growth factor axis. Cancer Res. Nov 15 2010;70(22):9003-9011.
  14. la Porte C, Voduc N, Zhang G, et al. Steady-State pharmacokinetics and tolerability of trans-resveratrol 2000 mg twice daily with food, quercetin and alcohol (ethanol) in healthy human subjects. Clin Pharmacokinet. Jul 2010;49(7):449-454.
';
Phượng Lê

About Phượng Lê

Biên tập viên
Cử nhân Công nghệ sinh học

  •  

Leave a Comment